Tổng quan về Nấm Linh chi

Là một trong những loại thảo dược nổi tiếng nhất và cũng là thảo mộc được sử dụng lâu đời nhất trong y học Phương Đông. Nấm Linh chi luôn thu hút được sự quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu của cả những nhà khoa học và người dùng. Chính vì thế, khi gõ từ khoá “nấm linh chi” vào trong ô tìm kiếm của google, chúng ta sẽ có được hàng triệu kết quả. Con số còn lớn hơn nhiều khi tìm với những từ khoá khoa học như Ganoderma Lucidum hay tên tiếng Anh của chúng: “Lingzhi”, “Reishi”.

Hơn thế nữa, trong quá trình nghiên cứu về thảo dược, đặc biệt là nấm linh chi , tôi thường xuyên nhận được những câu hỏi thắc mắc về nguồn gốc, cách phân biệt nấm linh chi cũng như đặc điểm của từng loại nấm linh chi. Những câu hỏi thường gặp nhất có thể kể đến như:

  • Ở gốc cây bưởi/hồng xiêm/cam…. ngoài vườn nhà em có mọc một tai nấm, không biết có phải nấm linh chi không?
  • Bố em được tặng 1 tai nấm rất to, không biết đấy có phải nấm linh chi không?”
  • Có phải nấm linh chi càng to là càng quý không?
  • Bạn em đi rừng tìm được tai nấm linh chi, em có uống được không?
  • Có phải Linh chi càng lâu năm càng tốt không?

Để phần nào cung cấp một cái nhìn tổng thể về nấm linh chi, cũng như giải đáp những thắc mắc phổ biến trên, tôi sẽ dành bài viết dưới đây để tổng hợp, phân tích các thông tin khoa học đã được thế giới và các nhà khoa học uy tín công bố trong các tài liệu chính thống.

Lưu ý: Bài viết có sử dụng nhiều trích dẫn, minh chứng khoa học, vì thế để tìm hiểu, làm rõ cũng như được tư vấn anh/chị có thể liên hệ với chúng tôi theo hotline: 0915.296. 888 hoặc fanpage: namlinhchidrhani.

NỘI DUNG CHÍNH

—————————————————————————————————————–

1. Tổng quan về nấm linh chi

Từ điển thảo dược Botanical Latin của nhà thảo dược học vĩ đại người Anh William Thomas Stearn xuất bản năm 1966 (1) xếp nấm Linh chi được vào vị trí phân loại thuộc chi Ganoderma. Ganoderma là từ ghép trong tiếng Latin bao gồm hai thành tố có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp là “Ganos” có nghĩa là sáng, bóng và “Derma” có nghĩa là lớp da. (2). Vì thế, những giống nấm được xếp vào chi Ganoderma có bề mặt của tai nấm sáng, bóng.

Nấm Linh chi thuộc họ Ganodermataceae (Nấm Lim) và được đặt tên khoa học là Ganoderma Lucidum hay Garnoderma Lucidum Karst. Trong đó:

  • Garnoderma: tên của chi nấm
  • Lucidum: từ chỉ đặc điểm hình thái của giống nấm với ý nghĩa trong tiếng Latin là sáng rực rỡ, có mùi thơm.
  • Karst: tên viết tắt nhà khoa học Karsten Peter Aldolf – nhà khoa học – thảo dược học người Phần Lan, người thành lập và đặt tên cho chi nấm Ganoderma vào năm 1881. Trước đó, chi nấm này có tên là Boletus Lucidus Curtis (1781) và sau đó là Polyporus Lucidus (Curtis) Fr. (1821).

Tuy nhiên, trong tài liệu của Karsten thì chi Ganoderma chỉ có 1 loài là Ganoderma Lucidum, do đó Patouillard (1889)(3) đã sửa đổi và bổ sung Chi Ganoderma của Karsten thành các loài nấm có bào tử sắc tố, dạng ống, bám dính và lớp vỏ cứng. Theo tiêu chí này, đã có thêm 48 loài mới được bổ sung và phân loại theo chi Ganoderma. Năm 2008, Kirk và cộng sự đã công bố trong từ điển về Nấm (Dictionary of the Fungi (10th ed.) số lượng hơn 80 loài thuộc chi Ganoderma, với phân bố chủ yếu là ở khu vực châu Á. (4). Tuy nhiên, theo rất nhiều nhà nghiên cứu và tìm hiểu về thảo dược, đây chưa phải là con số cập nhật và đầy đủ nhất mà mới chỉ là những loài đã từng được nghiên cứu mà thôi. Họ cho rằng số loài nấm thuộc chi Ganoderma có thể lên đến hơn 200 loài, phân bổ ở tất cả các lục địa trên trái đất, kể cả ở những vùng rừng nhiệt đới xa xôi của Amazon.(5) 

Chi nấm linh chi (Ganoderma) là các loại nấm thuộc nhóm nấm khung có thân hoặc không có thân, có tai nấm lớn dạng cấu trúc khung gỗ (conk). Vì thế nhiều nơi gọi đây là nấm gỗ để phân biệt với các loại nấm thân mềm khác. Cũng chính vì đặc điểm này danh y Lí Thời Trân thời nhà Minh xếp nấm linh chi vào nhóm địa y thay vì nhóm nấm. Quả thể (mũ nấm) thường có dạng móng ngựa, dẻ quạt hoặc dạng quả thận. Chúng có lớp bào tử hai vách mầu nâu hoặc vàng.

Nếu chỉ căn cứ và hình thái bên ngoài cũng như các đặc điểm sinh học, chi Nấm Linh chi (Garnoderma) được chia thành hai nhóm lớn là “Cổ Linh chi” (Ganoderma applanatum) và “Linh Chi” (Ganoderma lucidum Karst). (6) Cho dù nằm chung trong một chi, nhưng hai nhóm này có rất nhiều đặc điểm khác biệt cả về hình thái bên ngoài, điều kiện sinh trưởng cũng như dược tính. Hiện nay, trên rất nhiều trang web, người ta rao bán những tai nấm Cổ Linh chi có kích thước lớn với quảng cáo về dược tính, tuy nhiên, trong các nghiên cứu khoa học, chỉ có nhóm Ganoderma Lucidum Karst mới được khẳng định là có dược tính trong khi nhóm Cổ Linh chi được xếp vào nhóm nấm phá gỗ.

2. Một số phương thức phân loại nấm linh chi

2.1 Theo tài liệu của Trung Hoa cổ đại

Trong hai tác phẩm nổi tiếng thời cổ đại bàn về thảo mộc của Trung Quốc thời cổ đại là Thần Nông Bản thảo và Bản thảo Cương mục, nấm linh chi được chia thành 6 loại dựa trên mầu sắc của tai nấm là : (Thanh chi – 青芝 ), nấm đỏ (Xích chi – 赤芝), nấm vàng (hoàng chi – 黃 芝), nấm đen (hắc chi – 黑 芝), nấm trắng (bạch chi – 白芝) và nấm tím (tử chi – 紫芝).

Cũng theo các tác phẩm này, mỗi mầu sắc của tai nấm sẽ thể hiện công dụng trị liệu của chúng với một, một vài bộ phận trên cơ thể con người. Nấm linh chi mầu trắng được các tác giả cổ đại cho là tốt cho phổi, nấm mầu xanh tốt cho gan và mắt, nấm mầu đen tốt cho não và thận, nấm mầu tím bổ sung năng lượng, nấm mầu đỏ tốt cho gân, cơ, da và tim, nấm mầu vàng tốt cho lá lách và ruột.

Quan điểm này hiện vẫn rất phổ biến tại các quốc gia châu Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn quốc, Việt Nam…

(Ảnh minh hoạ 6 loại nấm linh chi theo mầu sắc)
Nguồn ảnh: Michellenk (9)

2.1 Theo các nghiên cứu hiện đại

Tuy nhiên, các nghiên cứu về gien của các loại nấm thuộc chi Ganoderma thì không căn cứ trên hình thái về mầu sắc mà dựa trên trình tự của các DNA. Theo đó, chi Ganoderma được chia thành 6 nhóm đơn ngành khác nhau bao gồm:

  • Ganoderma colossus: Đây là một loại nấm mới được xếp vào chi ganoderma, trước kia nó được xếp vào chi Tomophagus (10). Chúng phân bổ chủ yếu ở miền Trung, miền Nam nước Mỹ và châu Phi xích đạo. Loài này có quá ít nghiên cứu về dược tính.
  • Ganoderma applanatum: nấm cổ linh chi, một loại nấm phá gỗ)
  • Ganoderma tsugae (có hình thái bên ngoài tương tự như Asian Ganoderma lucidum, nhưng đây là một loài nấm của châu Âu, không thuộc nhóm Ganoderma của châu Á) (11)
  • Asian Ganoderma lucidum: mọc phổ biến ở các khu vực nhiệt đới của châu Á, thường được với tên như Lingzhi hay Reishi. Đây cũng chính là loại nấm linh chi được nghiên cứu nhiều nhất và được xác định là có những dược tính tác động đến quá trình trị liệu trong y học.
  • Ganoderma meredithiae: đây là một loài khá mới khi lần đầu tiên được ghi nhận vào năm 1988 bởi nhà nghiên cứu về nấm James E. Adaskaveg và các cộng sự (12). Loài nấm này được xác định là một loại nấm gây thối, mục thân cây chủ mà nó ký sinh. Chúng được tìm thấy phổ biến ở các vùng phía đông nam của Hoa kỳ.
  • Ganoderma resinaceum: có hình thái bên ngoài tương tự như Asian Ganoderma lucidum, nhưng thường mọc trên những thân cây lá kim như cây beech – một loại cây lá kim khá phổ biến tại các nước ôn đới như Nga.

3. Đặc điểm của Ganoderma Lucidum KarstGanoderma applanatum

3.1 Cổ linh chi

Cổ linh chi có tên khoa học là Ganoderma Applanatum và tên tiếng Anh là Ancient Lingzhi, ở Mỹ còn được gọi với tên Artist’conk

Cổ linh chi là các loài nấm gỗ không cuống (hoặc cuống rất ngắn) có nhiều thụ tầng (mỗi năm thụ tầng lại phát triển thêm một lớp mới chồng lên). Đây là đặc điểm nhận dạng khá điển hình của loại nấm này.

  • Mũ nấm cổ Linh chi hình dẻ quạt có mầu nâu xám đến đen sẫm, có bề mặt sù xì, thô ráp.
  • Chúng thường mọc hoang trong các cánh rừng, đặc biệt ở môi trường thuận lợi như độ ẩm cao, thân cây chủ lớn thì nấm có thể phát triển rất mạnh và đạt được kích thước rất lớn. Kích thước của những tai nấm Cổ Linh chi có thể đạt đến 200 cm, thậm chí có nhiều nơi người ta tìm được những tai nấm có kích thước hơn 1 người ôm.
  • Nó cũng có thể phát triển như một mầm bệnh của gỗ cây sống, đặc biệt là trên những thân cây già hoặc gỗ ẩm, mục, quá trình phát triển của nấm và mầm bệnh sẽ tiến triển nhanh hơn.
  • Đây là một trong những nguyên nhân phổ biến nhất dẫn đến sự phân huỷ và cái chết của cây sồi, cây dương, và  một số loại cây khác như táo, cây dẻ ngựa, cây phong, cây sồi, cây óc chó, cây liễu, cây phong tây, cây thông Douglas, cây ô liu bị bệnh và cả những cây lâu năm như cây vân sam
  • Vì những lý do như trên, cổ linh chi được xếp vào giống nấm phá hoại, cần được loại bỏ.

3.2 Linh chi

Linh chi có tên khoa học là Ganoderma lucidum Karst. Đây là một loại nấm thân gỗ có cuống (có thể dài hoặc ngắn tuỳ vào từng phân loài và điều kiện nuôi trồng). Mũ nấm có nhiều hình dạng nhưng phổ biến nhất là hình thận, hình tròn, mặt trên bóng, nấm hơi cứng và dai. 

  • Trong cuốn A field guide to mushrooms: North America , nấm linh chi trong tự nhiên thường mọc ở những gốc cây có thảm lá mục dầy và chỉ hai trong số 10.000 gốc cây như thế mới có sự sinh trưởng của nấm linh chi. (13)
  • Hơn thế nữa, giống Ganoderma lucidum rất hiếm khi được tìm thấy ở những rừng cây lá kim – rừng cây phổ biến ở vùng ôn đới. Chúng mọc nhiều trong những vùng rừng nhiệt đới ở phương Đông, nơi có thảm thực vật lá bản và độ ẩm cao.(14)
  • Ngày nay, do tình trạng khai thác rừng ồ ạt dẫn tới nấm linh chi trong tự nhiên thực sự hiếm, không nói là hầu như không có. Hơn thế nữa, nếu không biết được nguồn gốc cụ thể của loài nấm cũng như môi trường sinh trưởng và điều kiện ký sinh (loại cây, môi trường nước, cũng như các chất hoá học nấm hấp thụ từ cây ký sinh) thì không thể xác định được mức độ an toàn, dược tính của chúng.
  • Vì thế, do áp dụng tiến bộ của khoa học vào canh tác và nuôi cấy nên chúng ta có thể trồng nấm linh chi trên các khúc gỗ cứng, những thanh gỗ vụn hoặc trong bịch nấm làm từ mùn cưa.(15)
  • Theo các nghiên cứu hiện đại thì, mầu sắc, kích thước cũng như hình thái của mũ nấm có thể thay đổi theo điều kiện sinh trưởng. Nghiên cứu của các nhà khoa học Nhật Bản đăng tải trên tạp chí khoa học quốc tế International journal of medicinal mushrooms (16), những tai nấm có mầu sắc khác nhau không phải bởi chúng thuộc những loài khác nhau mà chúng chỉ là một loài nhưng có sự biến đổi do môi trường sinh trưởng. Độ ẩm, ánh sáng, chất dinh dưỡng và cả hàm lượng carbon dioxide trong không khí chính là các yếu tố tác động đến sự thay đổi này. Vì vậy, các nhà khoa học khẳng định, chúng ta hoàn toàn có thể thu được 6 mầu sắc khác nhau của cùng một giống nấm linh chi dựa trên sự điều chỉnh về các yếu tố sinh thái và quy trình canh tác. Hơn thế nữa, trong một số điều kiện nuôi trồng đặc biệt, nấm linh chi còn có thể kéo dài chân nấm và thậm chí biến mất mũ nấm (loại nấm linh chi sừng hươu).

4. Một số tên gọi thông dụng

Loại nấm Linh chi châu Á (Asian Ganoderma lucidum) có rất nhiều tên gọi khác nhau tuỳ thuộc vào ngôn ngữ của từng quốc gia, thậm chí trong một quốc gia cũng có nhiều cách gọi. Điều này phần nào thể hiện sự phổ biến và mức độ quan tâm của người dùng đối với loại nấm thảo dược nổi tiếng này. Tuy nhiên, nó cũng gây ra khá nhiều phiền toái và hiểu lầm khi nhiều người đọc được những tài liệu viết những loại tên khác nhau. Dưới đây là 1 số cách gọi thông dụng nhất:

  • Trung Quốc: Lingzhi
  • Tiếng Anh: Lingzhi hoặc Ling chih
  • Nhật Bản: Reishi
  • Hàn quốc: Yeongji
  • Việt Nam: Linh chi 

5. Thành phần hoá học và dược tính

Theo công bố khoa học năm của Paterson, R. Russell M, nấm linh chi có chứa triterpen (axit ganoderic). Đây là chất có cấu trúc phân tử tương tự như hormon steroid(19) (loại hormon giúp kiểm soát sự trao đổi chất, kháng viêm, tăng cường chức năng miễn dịch, cân bằng muối và nước cho cơ thể, phát triển các đặc tính tình dục và khả năng chịu đựng bệnh tật và chấn thương)(20). Nó cũng chứa polysacarit (như beta-glucan), coumarin, mannitol và alkaloids.

Các nghiên cứu khoa học cũng chỉ ra tính hữu hiệu trong việc sử dụng nấm linh chi và các chế phẩm từ nấm linh chi trong việc đẩy lùi lão hoá, bảo về tế bào gan, tăng cường chức năng của thận,(21) hệ miễn dịch cũng như ức chế sự phát triển của tế bào ung thư.(22).

6. Cách thức chế biến và sử dụng

Nấm Linh chi là loại nấm khung có cấu trúc sợi gỗ, vì thế không dễ dàng ăn nấm linh chi như các loại nấm thông thường khác. Có khá nhiều cách chế biến nấm linh chi như nấu nước, nấu soup, sắc thuốc, chiết xuất thành dạng cao, nghiền thành dạng bột, làm thành dạng viên nang, viên hoàn.

(Tác giả: Tiến sỹ Nguyễn Hải Ninh – Dr.Hani)

7. Tài liệu tham khảo

  1. Stearn, William T. (1992) [1966]. Botanical Latin: history, grammar, syntax, terminology and vocabulary (4th ed.). Portland, Or.: Timber Press. ISBN 9780881923216[]
  2. Liddell, Henry George & Robert Scott (1980). A Greek-English Lexicon (Abridged Edition). United Kingdom: Oxford University Press. ISBN 0-19-910207-4.[]
  3. Patouillard, N. 1889. Le genre Ganoderma. Bull. Soc. mycol. Fr. 5:64-80.[]
  4. Kirk PM, Cannon PF, Minter DW, Stalpers JA (2008). Dictionary of the Fungi (10th ed.). Wallingford: CABI. p. 272. ISBN978-0-85199-826-8.[]
  5. Hobbs, Christopher (2002). Medicinal Mushrooms: An exploration of tradition, Healing, and Culture. Botanica Press. ISBN 978-1-57067-143-2.[]
  6. Moncalvo, J.M., Lutzoni, F.M., Rehner, S.A., Johnson, J. and Vilgalys, R., 2000. Phylogenetic relationships of agaric fungi based on nuclear large subunit ribosomal DNA sequences. Systematic biology49(2), pp.278-305.[]
  7. https://mommypotamus.com/reishi-mushroom-benefits-uses/?ck_subscriber_id=19844933[]
  8. http://www.scmsfungi.org/fungi/ganoderma_applanatum.htm[]
  9. http://blog.myfatpocket.com/michellenk/2013/03/11/vita-green-lingzhi/[]
  10. Murrill WA (1905). Tomophagus for DendrophagusTorreya 5: 197[]
  11. Wang DM, Wu SH, Su CH, Peng JT, Shih YH, Chen LC (2009). “Ganoderma multipileum, the correct name for G. lucidum in tropical Asia”. Botanical Studies. 50 (4): 451–58.[]
  12. Adaskaveg JE, Gilbertson RL. (1988). “Ganoderma meredithiae, a new species on pines in the Southeastern United States”. Mycotaxon. 31 (1): 251–7[]
  13. McKnight, K. H., & McKnight, V. B. (1998). A field guide to mushrooms: North America (Vol. 34). Houghton Mifflin Harcourt[]
  14. Wasser, S. P. (2005). Reishi or ling zhi (Ganoderma lucidum). Encyclopedia of dietary supplements1, 603-622.[]
  15. Veena, S. S., & Pandey, M. (2011). Paddy straw as a substrate for the cultivation of Lingzhi or Reishi medicinal mushroom, Ganoderma lucidum (W. Curt.: Fr.) P. Karst. in India. International journal of medicinal mushrooms13(4).[]
  16. Yajima, Y., Miyazaki, M., Okita, N., & Hoshino, T. (2013). Production of Ginkgo Leaf− Shaped Basidiocarps of the Lingzhi or Reishi Medicinal Mushroom Ganoderma lucidum (Higher Basidiomycetes), Containing High Levels of α-and β-D-Glucan and Ganoderic Acid A. International journal of medicinal mushrooms15(2).[]
  17. https://www.drweil.com/health-wellness/body-mind-spirit/hair-skin-nails/ready-for-reishi-mushrooms/[]
  18. https://www.mychineserecipes.com/reishi-mushroom-taste-reviews-and-cooking-guide/[]
  19. Paterson, R. Russell M. (2006). “Ganoderma – A therapeutic fungal biofactory”. Phytochemistry67 (18): 1985–2001. doi:10.1016/j.phytochem.2006.07.004hdl:1822/5522PMID 16905165.[]
  20. Frye CA (2009). “Steroids, reproductive endocrine function, and affect. A review”. Minerva Ginecol 61 (6): 541–562. PMID 19942840.[]
  21.  Klupp, Nerida L.; Chang, Dennis; Hawke, Fiona; Kiat, Hosen; Cao, Huijuan; Grant, Suzanne J.; Bensoussan, Alan (2015). Ganoderma lucidum mushroom for the treatment of cardiovascular risk factors”The Cochrane Database of Systematic Reviews (2): CD007259. doi:10.1002/14651858.CD007259.pub2. PMC 6486141PMID 25686270.[]
  22. Huang Q, Li L, Chen H, Liu Q, Wang Z (June 2019). “GPP (Composition of Ganoderma Lucidum Poly-saccharides and Polyporus Umbellatus Poly-saccharides) Enhances Innate Immune Function in Mice”Nutrients. 11(7). doi:10.3390/nu11071480PMC 6682870PMID 31261807[]

Recommended Posts