2 hoạt chất tạo nên dược tính thần kỳ cho Nấm linh chi.

Cùng với nhân sâm, nấm linh chi là hai loại thực vật được các nhà nghiên cứu quan tâm và dành thời gian tìm hiểu nhiều nhất. Không chỉ có các nhà khoa học của châu Á (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn quốc và Việt Nam), trong suốt hơn 50 năm qua các nhà khoa học phương Tây và Mỹ cũng đã thực hiện rất nhiều các nghiên cứu chuyên sâu về loại nấm huyền thoại này. Trước kia, các nghiên cứu thường gặp rất nhiều khó khăn do việc tìm kiếm các mẫu nghiên cứu ngoài tự nhiên không thực sự dễ dàng, tuy nhiên kể từ những năm 70 của thế kỷ trước, khi các nhà khoa học Nhật Bản ươm tạo và nuôi trồng thành công nấm Linh chi trong môi trường công nghiệp, các nghiên cứu dễ dàng tiếp cận hơn với mẫu nghiên cứu. Hàng nghìn công trình khoa học đã được công bố về kết quả chiết xuất và phân tích thành phần, tỉ lệ của các hoạt chất có trong nấm linh chi.

Theo nghiên cứu khoa học của Wasser được đăng tải trên tạp chí Encyclopedia of Dietary Supplements, tính đến thời điểm năm 2005 đã có hơn 300 công trình nghiên cứu khoa học công bố các thành phần hoá học của Nấm Linh chi. Các kết quả phân tích hoá sinh năm 1997 của giáo sư Koyama và cộng sự từ Nhật Bản xác định 145 hợp chất(1), tuy nhiên đến nay đã có khoảng 400 hợp chất hoạt tính sinh học khác nhau được tìm thấy trong quả thể, sợi nấm và bào tử bao gồm: triterpenoids, steroid, phenol, nucleotide và các dẫn xuất của chúng, glycoprotein và polysacarit, axit béo, protein và các nguyên tố vi lượng.

Protein có trong nấm linh chi chứa tất cả các axit amin thiết yếu và đặc biệt giàu lysine và leucine (2). Polysacarit và triterpen là hai thành phần sinh hoá chính trong nấm Linh chi. Đây cũng chính là hai hoạt chất chính tạo ra dược tính cho nấm Linh chi, tuy nhiên, hàm lượng và tỉ lệ của từng hoạt chất phụ thuộc vào chủng nấm (nguồn gene) cũng như điều kiện nuôi trồng và chế biến. Nghiên cứu được thực hiện của Chang vào Buswell năm 2008 (2) với 11 mẫu nấm Linh chi mua tại các cửa hàng bán thuốc Bắc tại HongKong cho thấy có sự khác biệt về tỉ lệ của các hợp chất này, cụ thể là hàm lượng triterpene dao động từ 0 đến 7,8% và hàm lượng polysacarit dao động từ 1,1% đến 5,8%.

NỘI DUNG CHÍNH

1. Hợp chất Triterpenoids

Hầu hết thực vật đều có hợp chất Triterpenoids. Đây là một hợp chất tự nhiên, giúp thực vật chống lại sự xâm nhập và phá hoại của vi khuẩn gây bệnh. Hợp chất này được thực vật tổng hợp như một phần của quá trình tăng trưởng, phát triển tự nhiên cũng như giúp thực vật kháng bệnh. Nó có nhiều trong nhựa, mủ của cây và vị đắng đặc trưng.

1.1 Cách chiết xuất hoạt chất triterpenes từ nấm linh chi khô

Theo báo cáo của Chang và Miles năm 2004(3) đã có hơn 150 hợp chất triterpenes đã chiết xuất được từ nấm linh chi (Ganoderma Lucidum). Trong đó, có 50 hoạt chất triterpenes chỉ được tìm thấy duy nhất trên nấm Linh chi. Vì thế, nấm linh chi được xác định và khẳng định là một trong những loại thực vật giàu hợp chất Triterpenoids nhất.

Việc chiết xuất triterpenes từ nấm linh chi khô không thực sự dễ dàng cho dù chúng ta cũng có thể sử dụng các phương pháp chiết xuất truyền thống như sắc trong nước (decolition), chiết xuất bằng cồn, rượụ (ngâm rượu – tinture) hay phương pháp nấu cao theo tỉ lệ tiêu chuẩn (standardized extraction method). Tuy nhiên, các phương pháp truyền thống thường chỉ thu được hoạt chất triterpenes trong sợi nấm và quả thể chứ khó có thể tách được lớp vỏ của bột bào tử nấm (bộ phận có hàm lượng triterpenes cao nhất trên cây nấm Linh chi). Vì thế, với bột bào tử nấm (Ganoderma lucidum spores) các nhà khoa học thường sử dụng các phương pháp như chiết xuất có hỗ trợ siêu âm, chiết xuất bằng sóng cao tần để phá lớp vỏ cứng của bào tử nấm(4). Điều này gần như là không thể thực hiện được trong điều kiện thông thường.

1.2 Tác dụng của hoạt chất Ganoderma triterpenes với con người

Hoạt chất Ganoderma triterpenes là lý do làm cho nấm linh chi có vị đắng cũng như giúp nó trở thành loại thảo dược có nhiều lợi ích cho sức khỏe, như giảm mỡ (lipid) và cũng như chống oxy hóa tác nhân chính giúp làm chậm quá trình lão hoá của cơ thể).(5) Ngoài ra, theo nghiên cứu của Chen và cộng sự năm 2002, hoạt chất Ganoderma triterpenes được xác định có tác dụng chống lại quá trình tăng trưởng của tế bào ung thư P388 cũng như thúc đẩy quá trình tự huỷ của chúng, giúp ngăn ngừa việc hình thành các khối u trong cơ thể con người.

Ngoài ra, hoạt chất Ganoderma triterpenes chiết xuất từ nấm Linh chi cho tác dụng tích cực trong việc bảo vệ các tế bào thần kinh và làm suy yếu sự phá huỷ các tế bào thần kinh, dẫn tới bảo vệ não bộ.(6). Hơn thế nữa, các kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra mối liên hệ tích cực giữa việc sử dụng các thuốc có chứa hoạt chất Ganoderma triterpenes trong điều trị các căn bệnh về hệ thần kinh điển hình như: Alzheimer(7).

Ảnh minh hoạ: Cấu trúc hợp chất Triterpenoids trong nấm Linh chi
Nguồn ảnh: Sanodiya và cộng sự (2009)(8)

2. Hợp chất Polysaccharides

Polysacarit là hợp chất rất quan trọng bậc nhất và cũng là thành phần hợp chất có tỉ lệ rất cao trong nấm Linh chi so với các loại thực vật khác(9). Theo báo cáo của Trong nấm linh chi, hàm lượng Ganoderma polysacarit chiếm khoảng 10% trọng lượng của quả thể khô.

2.1 Cách chiết xuất Ganoderma polysacarit từ nấm linh chi khô

Tuỳ thuộc và loại nấm cũng như quy trình và phương pháp chiết xuất mà tỉ lệ hoạt chất polysacarit thu được có thể khác nhau. Chính vì thế, các công ty dược phẩm, các nhà nghiên cứu không ngừng tìm kiếm và áp dụng các phương pháp chiết xuất mới để có thể thu được tỉ lệ Ganoderma polysacarit cao hơn từ quả thể nấm linh chi khô. Các phương pháp này đòi hỏi trình độ khoa học, máy mọc công nghệ và kinh nghiệm chiết xuất dược liệu, nó thường được thực hiện tại các nhà máy dược phẩm, viện nghiên cứu.

Ở những điều kiện thông thường như trong các gia đình, chúng ta cũng có thể sử dụng các phương pháp chiết xuất truyền thống như đun nấm linh chi trong nước để dùng thay nước uống hay đun dưới hình thức sắc thuốc, ngâm trong rượu mạnh đều có thể giúp thu được một tỉ lệ nhất định hoạt chất Ganoderma polysacarit.

Ảnh minh hoạ: Cấu trúc hợp chất polysaccharides trong nấm Linh chi
Nguồn ảnh: Chong và cộng sự (2018)(10)

2.2 Tác dụng của hoạt chất Ganoderma polysacarit với con người

Các nghiên cứu dược lý và lâm sàng gần đây đã xác nhận hoạt chất Ganoderma polysacarit có trong nấm linh chi thể hiện tác dụng đáng kể chống lại việc hình thành và tiến triển của các khối u (nguyên nhân chính dẫn đến ung thư) thông qua việc tăng cường chức năng miễn dịch của vật chủ.(11) Bên cạnh đó, Ganoderma polysacarit cũng được tìm thấy có tác dụng cân bằng tỉ lệ đường trong máu (nguyên nhân chủ yếu của bệnh đái tháo đường), chống viêm, giảm thiểu tác động của quá trình oxy hóa (nguyên nhân chính của lão hóa)(11).

Chính vì những tác dụng to lớn trong ngăn ngừa và điều trị các căn bệnh hiện đại, Ganoderma polysacarit luôn là một điểm nghiên cứu nóng trong các nghiên cứu về dược liệu. Ganoderma polysacarit đã được tìm thấy trong thành phần của nhiều loại thuốc, thực phẩm chức năng, thực phẩm bổ sung sức khoẻ dưới hình thức viên nang, viên hoàn, nước thảo dược, siro, cao, bột dinh dưỡng… Theo các thống kê và phân tích được công bố năm 2018, doanh thu hàng năm của các sản phẩm có nguồn gốc từ nấm linh chi đã vượt mốc 4 tỉ đô la Mỹ/năm. Con số này được dự báo sẽ tiếp tục tăng trong những năm tới khi điều kiện khí hậu, môi trường sống ngày càng kém, tác động không nhỏ tới sức khoẻ của con người. Cũng như, xu thế quan tâm, tăng cường sức khoẻ từ khi còn trẻ đang thu hút được sự quan tâm và hưởng ứng của công chúng.(12).

(Tác giả: Tiến sỹ Nguyễn Hải Ninh – Dr.Hani)

(Để thể hiện sự tôn trọng với tác giả, đề nghị ghi rõ nguồn tham khảo khi chia sẻ và trích dẫn từ tài liệu này).

———————————–

3. Tài liệu tham khảo

  1. Koyama, K., Imaizumi, T., Akiba, M., Kinoshita, K., Takahashi, K., Suzuki, A., … & Naoi, Y. (1997). Antinociceptive components of Ganoderma lucidum. Planta medica63(03), 224-227.[]
  2. Chang S. T, Buswell J. A. Safety, quality control and regulational aspects relating to mushroom nutriceuticals. Proc. 6th Intl. Conf. Mushroom Biology and Mushroom Products. 2008:188–95. GAMU Gmbh, Krefeld, Germany.[][]
  3. Chang, S., & Miles, P. (2004). Ganoderma lucidum–a leader of medicinal mushrooms. Mushrooms: cultivation, nutritional value, medicinal effect, and environmental impact1, 357-373.[]
  4. Chen GZ, Liang HM, Xie YZ (2011) Quantification of triterpenoids acids in broken Ganoderma Lucidum spore extract by ultraviolet spectrophotometry. J Microbiol 31(1):91–94[]
  5. Chen D. H, Shiou W. Y, Wang K. C, editors. et al. Chemotaxonomy of triterpenoid pattern of HPLC of Ganoderma lucidum and Ganoderma tsugae. J Chin Chem.[]
  6. Xie AM, Liu ZL, Chen L, Wu JL, Ning YP, Li BQ, Wang YK, Liu P, Li ZW (2004) Study on ultrastructural changes of substantia nigra and effects of ganoderma spores on the changes in experiment Parkinson’s disease rats. Chin J Nerv Ment Dis 1:11–13[]
  7. Zhou Y, Qu ZQ, Zeng YS, Lin YK, Li Y, Chung P, Wong R, Hägget U (2012) Neuroprotective effect of preadministration with Ganoderma Lucidum spore on rat hippocampus. Exp Toxicol Pathol 64:673–680[]
  8. Sanodiya, Bhagwan Singh & Thakur, Gulab & Baghel, Rakesh & Prasad, Gbks & Bisen, Prakash. (2009). Ganoderma lucidum: A Potent Pharmacological Macrofungus. Current pharmaceutical biotechnology. 10. 717-42. 10.2174/138920109789978757.[]
  9. Faruque AM (2018) Ganoderma lucidum: persuasive biologically active constituents and their health endorsement. Biomed Pharmacother 107:507–519[]
  10. Choong, Y. K., Ellan, K., Chen, X. D., & Mohamad, S. A. (2018). Extraction and fractionation of polysaccharides from a selected mushroom species, Ganoderma lucidum: A critical review. In Fractionation. IntechOpen.[]
  11. Cao Y, Xu X, Liu S, Huang L, Gu J (2018) Ganoderma: a cancer immunotherapy review. Front Pharmacol 9:1217[][]
  12. Cör D, Knez Ž, Knez HM (2018) Antitumour, antimicrobial, antioxidant and antiacetylcholin- esterase effect of Ganoderma Lucidum terpenoids and polysaccharides: a review. Molecules 23(3):649[]

Recommended Posts